Trước khi ôn lại Tiểu Sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, để người đọc nhận định dễ hơn về ngày tháng ghi trong tiểu sử của Ngài, chúng tôi xin nhắc lại là Đức Phật Thích Ca sanh vào năm 624 trước Tây Lịch. Ngài nhập Niết Bàn lúc 80 tuổi vào năm 544 trước Tây Lịch. Sáu trăm hai mươi bốn năm sau, Tây Phương mới bắt đầu chọn năm sinh của Đức Chúa Jesus Christ làm khởi điểm cho Dương lịch. Như vậy tính đến nay là năm 2018 thì Đức Phật đã ra đời được 2,642 năm và chiếu theo Phật lịch khởi đầu từ năm Đức Phật viên tịch (năm 544 trước TL) thì Ngài đã nhập Niết Bàn được 2,562 năm.

Việt Nam và các quốc gia thuộc khu vực Đông Á như Nhật Bản, Trung Hoa, Triều Tiên ... từ xưa đều làm Lễ Phật Đản vào ngày mồng 8 tháng Tư Âm Lịch. Tên gọi tắt dành cho ngày Lễ Phật Đản là "Ngày mồng Tám tháng Tư" đã lưu truyền hằng bao thế kỷ, trở thành phong tục tập quán cổ truyền, ghi đậm vào tâm khảm của mọi người kể cả người theo hay không theo Phật giáo.

Vào thế kỷ thứ 20, trong kỳ Đại lễ kỷ niệm Phật Giáo Thế Giới tổ chức tại Tích Lan năm 1954-1956, Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới (The World Fellowship of Buddhists) quyết định lấy ngày trăng tròn 15 tháng 4 Âm lịch làm ngày kỷ niệm Đức Phật Đản Sanh. Đó là lý do tại sao có 2 ngày kỷ niệm Đức Phật ra đời là Mồng 8 tháng Tư Âm lịch (trước kia) và Rằm tháng Tư Âm lịch (bây giờ).

***

 Nhân ngày Lễ Khánh Đản của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, chúng ta hãy cùng nhau ôn lại tiểu sử của Ngài để có sự hiểu biết về một vĩ nhân đã để lại cho hậu thế một kho tàng văn hoá Phật học vĩ đại gồm 12,601 bài pháp thoại trong suốt 45 năm hoằng hoá, mà đã 2,562 năm trôi qua kể từ ngày Đức Phật viên tịch, nền minh triết đó vẫn còn được dân gian trên thế giới kể cả những người theo đạo Phật và những người không theo đạo Phật nghiên cứu và học hỏi. 

Trình bày về tiểu sử Đức Phật, người Phật tử có hai cách nhìn. Một là Đức Phật huyền thoại được ghi lại đầy đủ trong bộ kinh Phật Tổ Thống Ký (Bắc Tông) Bộ kinh này diễn tả rất chi tiết về sự kiện đản sanh của Đức Phật, thậm chí còn kể rõ Ngài là một vị Bồ Tát ngự trên cõi trời, đản sinh xuống cõi người. Cái nhìn thứ hai khoa học hơn, cũng theo kinh sử để lại thì Ngài là một người bình thường như bao nhiêu người khác, có cha mẹ, vợ con, có những ưu tư về cuộc sống đau khổ của con người nên muốn tìm phương pháp để thoát ra khỏi cái vòng luân hồi sanh tử. Giai đoạn học đạo với 2 vị đạo sĩ nổi tiếng thời ấy là đạo sĩ Alãra Kãlama và Uddaka Ramãputta cũng như nhập đoàn với năm anh em đạo sĩ Kiều Trần Như suốt 6 năm tu khổ hạnh cũng không có gì khác biệt giữa vị Phật huyền thoại và vị Phật lịch sử.

Cho nên trong bài viết này chúng tôi mạn phép lấy tựa đề là "Đức Phật Thích Ca: Huyền Thoại (tôn giáo) và Lịch Sử".

Bạn đang xem: Đức phật sinh năm bao nhiêu

Bài viết chỉ giới thiệu sơ lược về lịch sử đản sanh của Ngài, chứ không khai triển các chi tiết khác, bởi chỉ có mấy ngàn chữ theo quy ước này, thì làm sao có thể diễn đạt được hết cuộc đời của một bậc đại Giác Ngộ như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

 

*
Tượng Thái tử Sĩ Đạt Ta lúc ra đời

 ĐỨC PHẬT TÔN GIÁO / HUYỀN THOẠI

Từ xưa đến nay, muốn thành hình một tôn giáo ít nhất phải hội đủ một số điều kiện như sau: Phải có một vị Giáo Chủ mang nhiều huyền thoại nào đó khiến cho người ta kính phục tin theo, phải có giáo lý, tín đồ và nghi lễ riêng biệt của tôn giáo đó.

 Về lịch sử thì đạo Phật là một học thuyết, là một con đường tu tập để dẫn tới sự khai mở trí huệ tâm linh do Đức Phật vốn là một người bình thường đã tu tập và sáng đạo, đi giáo hoá truyền lại những kinh nghiệm của mình cho người khác. 

 Sau khi Đức Phật viên tịch, theo thời gian sau đó đạo Phật nhập thế. So sánh với những điều kiện nêu trên thì đạo Phật có thể coi như là một tôn giáo, vì nó cũng có đủ các tiêu chuẩn như:

- Đạo Phật có Giáo Chủ là Đức Bổn Sư Thích Ca. Cuộc đời của Ngài cũng có nhiều huyền thoại. Chẳng hạn như Ngài là vị Nhất Sanh Bổ Xứ Bồ tát Hộ Minh trên cung trời Đâu Suất đã tu vô lượng kiếp, chỉ còn một kiếp nữa là sẽ thành Phật. Từ cung trời Đâu Suất ngài nhìn xuống thế gian tìm Cha Mẹ có đạo đức nhập thai xuống trần tiếp tục tu hành một kiếp chót để đạt Chánh Quả. 

- Đạo Phật có giáo lý để giảng dạy cho tín đồ. Số lượng kinh điển chia làm 2 loại: Nikãya (Nam Tông) và A-Hàm (Bắc Tông). Ở Việt Nam chúng ta, kinh điển Phật Học được chuyển sang tiếng Việt tuy chưa hoàn toàn đầy đủ nhưng cũng được khá nhiều. Nói chung, tổng quát có 4 bộ Nikãya gồm 12,601 bản kinh, chưa kể Tiểu Bộ kinh. Còn 4 bộ A-Hàm gồm 2,086 bản kinh. Cộng lại chúng ta thấy Đức Phật để lại cho tín đồ 14,687 bài pháp thoại.

- Hiện nay có khoảng hơn 800 triệu tín đồ theo đạo Phật trong số trên 7 tỷ người trên hành tinh này.

 Trở lại tiểu sử Đức Phật tôn giáo hay nói khác hơn là huyền thoại về Đức Phật Thích Ca. Như đã nêu trên, Bồ Tát Hộ Minh lúc bấy giờ đã tu từ bao nhiêu triệu kiếp rồi, chỉ cần một kiếp cuối cùng là Ngài sẽ thành Phật. Lúc ấy Bồ Tát ở trên cung trời Đâu Suất nhìn xuống thế gian tìm gia đình thích hợp để xuống trần. Người Mẹ mà Bồ Tát chọn nhập thai là Hoàng hậu Mahã Maya. 

 Chuyện kể Hoàng Hậu Maya là một người đạo đức và tràn ngập lòng từ bi. Bà là vợ của vua Tịnh Phạn thành Ca-Tỳ-La-Vệ, đã lớn tuổi rồi mà chưa có con. Một ngày kia vào buổi trưa, Đức Hoàng hậu đang nằm nghỉ ngơi thì rơi vào giấc mộng, bà thấy 4 vị thiên thần nâng 4 góc giường bay thẳng lên đỉnh núi Hy-Mã-Lạp-Sơn. Nơi đây có một con voi trắng 6 ngà từ trên trời bay xuống và chui vào hông phải của bà. Hoàng hậu giựt mình tỉnh giấc, cảm thấy trong người mát mẻ dễ chịu, tinh thần sảng khoái. Ngay lúc đó là lúc Hoàng hậu đã thọ thai. 

Theo phong tục Ấn Độ, người phụ nữ khi mang thai phải về quê cha mẹ của mình để sanh nở. Hoàng hậu Maya cũng không ra khỏi tập tục đó. Gần ngày khai hoa nở nhụy, trên đường về quê cha mẹ, đến vườn Lâm Tỳ Ni ở ngay biên giới của hai nước Kosola (Nepal) và Ca-Tỳ-La-Vệ (Bắc Ấn Độ), Hoàng hậu ra lệnh cho đoàn tuỳ tùng dừng chân nghỉ mát vì nơi đây không khí dễ chịu thoang thoảng hương hoa nhẹ nhàng bay trong gió. Đoàn tuỳ tùng dừng lại. Khi Hoàng hậu Maya từng bước đi vào ven rừng ngắm cảnh, bà nhìn thấy một cây to có nhiều hoa nở rất đẹp mà trong kinh sách ghi là hoa Linh Thoại, có kinh ghi là hoa Vô Ưu. (Tương truyền loại hoa này 3,000 năm mới nở một lần, nhưng nếu hoa nở trái mùa, đó là hoa nở để chào mừng hay báo hiệu sẽ có một vị giác ngộ tương lai sắp ra đời.)

 Về huyền thoại của Đức Phật thì chuyện xưa kể rằng, khi Hoàng hậu Maya đưa tay phải lên vịn vào cành cây Vô Ưu thì Thái tử ra đời, Ngài sanh từ bụng mẹ qua bên hông phải. Lúc đó liền có 2 vị Phạm Thiên xuất hiện đỡ lấy Ngài. Hai vòi nước một ấm một lạnh do 2 con rồng phun ra từ trên cao xuống tắm cho vị hoàng tử mới sơ sanh.

 Tích cũ kể tiếp, Thái tử vừa lọt lòng mẹ đã bước đi bảy bước, mỗi bước có một hoa sen nở để đỡ lấy chân của Ngài. Đến bước thứ bảy Thái tử đưa một tay chỉ ngón trỏ lên trời, một ngón tay chỉ xuống đất thốt lên câu nói: 

 "Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn" nghĩa là "Trên trời dưới đất chỉ có chân-ngã (tức cái-Ta-chân-thật) là số một" ... rồi sau đó Ngài đã trở lại đời sống như một đứa bé sơ sanh bình thường khác.

*
Thái tử Sĩ Đạt Ta sanh ra tại vườn Lâm Tỳ Ni Nepal năm 624 trước Tây Lịch (tranh huyền thoại)

 Khi Thái tử sinh được 5 ngày, đức vua Tịnh Phạn (Suddhodana) đặt tên cho con trai là Siddhattha (tiếng Sanskrit) âm tiếng Việt là Sĩ-Đạt-Ta, họ là Gotama, âm tiếng Việt là Cồ Đàm. Tiếng Pãli là Siddharta Gautama. Ngài thuộc dòng dõi quí tộc Thích Ca (Sakiya). 

Theo phong tục thời bấy giờ, nhà vua cho mời nhiều vị đạo sĩ Bà La Môn học rộng tài cao vào triều dự lễ đặt tên và xem tướng cho Thái tử. Có tám vị đạo sĩ lỗi lạc vào cung xem tướng cho Thái tử. Bảy vị đưa lên 2 ngón tay và giải thích hai lẽ: Một là Thái tử sau này sẽ trở nên vị Hoàng đế vĩ đại nhứt thế gian, hai là Ngài sẽ đi tu và đắc quả Phật. Riêng đạo sĩ trẻ tuổi tên là Kiều Trần Như (Kondanna) thì bảo rằng sau này Thái tử sẽ xuất gia và thành tựu quả Chánh Đẳng Chánh Giác.

 Trước đó, có một vị đạo sĩ tên là A-Tư-Đà (Asita) là một người thân tín của nhà vua tu hành trên núi Hy-Mã-Lạp-Sơn, nhân chuyến hạ sơn nghe dân gian loan truyền Hoàng hậu Maya vừa hạ sanh hoàng nam, nên ông xin được vào thăm Thái tử. Vua Tịnh Phạn lấy làm hân hoan, cho bồng Thái tử ra đảnh lễ đạo sĩ. Đạo sĩ A-Tư-Đà xem tướng Thái tử rồi tiên tri rằng về sau Thái tử sẽ trở nên bậc vĩ nhân cao quý nhất của nhân loại. Nói xong, ông sụp quỳ lạy Thái tử. Thấy lão đạo sĩ đảnh lễ con mình như vậy, đức vua Tịnh Phạn cũng làm theo đạo sĩ, xá chào con mình.

Xem thêm: Cách Làm Món Cá Chiên Tỏi Ớt Siêu Tốn Cơm, Món Ngon Cuối Tuần: Cá Chiên Xù Giòn Thơm Hấp Dẫn

Kế đó, đạo sĩ bỗng dưng cất tiếng cười khan rồi lại khóc. Đức vua và mọi người ngạc nhiên trước những cảm xúc vui buồn của đạo sĩ, hỏi tại sao, thì được đạo sĩ ATư-Đà giải thích rằng ông vui mừng vì biết rằng về sau Thái tử sẽ đắc quả Phật và ông khóc vì biết rằng không bao lâu nữa ông sẽ chết và tái sanh vào cảnh giới Vô Sắc (là cảnh giới mà người đắc thiền sẽ tái sanh vào). Do đó ông sẽ không được hưởng phước lành thọ giáo với bậc trí tuệ cao siêu, Chánh Đẳng Chánh Giác.

 Sau lễ đặt tên Thái tử được 2 ngày, Hoàng hậu Mahãmaya đột nhiên qua đời, trong kinh ghi bà được sanh về cung trời Đao Lợi. Lúc bấy giờ, Vương phi Mahã Pajãpati Gotami (em ruột của hoàng hậu) tình nguyện nuôi dưỡng Thái tử cho đến khi Ngài khôn lớn.

LỄ HẠ ĐIỀN

 Một sự kiện lạ lùng xảy ra trong thời thơ ấu của Thái tử Sĩ-Đạt-Ta. Sự kiện ấy là một kinh nghiệm tinh thần của Ngài, là chiếc chìa khoá mở đường cho Ngài tiến đến sự Giác Ngộ.

 Câu chuyện kể lại là vào hằng năm vua Tịnh Phạn có tổ chức lễ Hạ Điền. Đó là một nghi lễ cầu thần linh ban cho mưa thuận gió hoà, trước khi mọi người bắt tay vào việc đồng án. 

 Ở Ấn Độ, người ta tin đủ các loại thần: nào là thần mưa, thần gió, thần lửa, thần đất v.v... Họ tin tưởng tất cả mọi vấn đề trong cuộc sống của con người đều do thần linh cai quản. Con người phải cúi đầu nhận chịu sự ban phát hay trừng phạt của các đấng thần linh.

 Sáng ngày đức Vua cùng quần thần áo mão chỉnh tề ra tận nơi hành lễ. Các cung phi mỹ nữ đỡ thái tử Sĩ-Đạt-Ta ngồi vào kiệu, lính hầu khiêng kiệu đặt dưới bóng mát của một cội cây trâm lớn, nơi nghi lễ sẽ diễn ra cách đó không xa. Mọi người đều hân hoan chiêm ngưỡng cảnh nhà vua chủ lễ, các cung phi có phận sự trông nom Thái tử cũng lén chạy đến gần để xem.

 Thái tử lúc đó còn nhỏ khoảng 9, 10 tuổi, nhưng lại không ham thích cảnh tưng bừng nhộn nhịp của buổi lễ. Thái tử rời kiệu xuống đất, thay vì chạy nhảy vui chơi, Ngài lại chọn bóng mát dưới gốc cây trâm, ngồi tréo 2 chân theo lối kiết già, trầm ngâm lặng lẽ, mắt lim dim, chăm chú vào hơi thở, định tâm và tình cờ nhập định đắc Sơ Thiền. 

Đang lúc mọi người bận rộn, vui vẻ với cuộc lễ, các cung phi bỗng sực nhớ tới Thái tử, vội vã quay về với phận sự, họ thấy Thái tử đang ngồi trầm ngâm thiền định. Lấy làm lạ nhưng không dám quấy rầy, họ vội vàng đến trình tâu tự sự cho vua Tịnh Phạn. 

Đức vua Tịnh Phạn hối hả đến nơi, thấy Thái tử Sĩ-Đạt-Ta vẫn còn trong tư thế nhập định. Đức vua đến trước mặt Thái tử, chắp tay xá chào con, dịu dàng nói: "Hỡi này con yêu quí, đây là lần thứ nhì, phụ vương đảnh lễ con." 

ĐỜI SỐNG THÁI TỬ SĨ-ĐẠT-TA BỊ BƯNG BÍT

Vua Tịnh Phạn thấy Thái tử còn nhỏ mà không ưa thích cuộc sống ồn ào vui chơi như những trẻ con hoàng thân quốc thích khác, nên Ngài rất lo sợ, nhất là mỗi khi nhớ đến những lời tiên tri của các vị đạo sĩ rằng sau này Thái tử sẽ xuất gia tìm đạo và đắc quả Phật. 

 Trong lòng vua Tịnh Phạn không muốn con mình đi tu, Ngài chỉ muốn huấn luyện cho Thái tử trở thành người tài giỏi xuất chúng về mọi mặt, để sau này trao ngai vàng cho Thái tử trị vì trăm họ. 

Để đạt được mục đích của mình. Nhà vua bắt đầu lên kế hoạch che đậy bưng bít không cho Thái tử thấy, biết... cuộc sống thế gian vốn có nhiều đau khổ và phiền lụy. 

 Bao vây chung quanh thái tử là cuộc sống vương giả, xa hoa, đàn ca hát xướng, tràn ngập sự hoan lạc. Khi lên 16 tuổi, theo phong tục thời bấy giờ, Thái tử kết duyên cùng công chúa Da-Du-Đà-La (Yasodharã), một người em cô cậu cùng tuổi. Trong 13 năm chung sống cùng Công chúa, Thái tử hoàn toàn sống cuộc đời nhung lụa, không hay biết gì về nỗi thống khổ của nhân loại bên ngoài ngưỡng cửa cung điện, Ngài và Công chúa Da-Du-Đà-La lại sinh được một đứa con trai, khiến cho vua Tịnh Phạn hết sức vui mừng. Vua đặt tên cháu nội là La-Hầu-La (Rãhula)

XUẤT GIA

 Suốt 29 năm sống trong cung vàng điện ngọc, được sự chiều chuộng của tất cả mọi người trong hoàng cung, nhất là vua cha và kế hậu cùng công chúa xinh đẹp DaDu-Đà-La luôn để ý chăm sóc, tạo điều kiện thuận lợi, khiến cho Thái tử lúc nào cũng cảm thấy vui vẻ hạnh phúc. Một mình Ngài được hưởng thụ mọi thứ vinh hoa trên cõi đời này. Trong kinh Tăng Nhứt A-Hàm (Anguttara Nikãya, phần 1, trg 145) có ghi lời Ngài kể cho đệ tử nghe như sau:

"Đời sống của ta thật là tế nhị, vô cùng tinh vi. Trong hoàng cung, chỗ ta ở, phụ hoàng có đào ao, xây những đầm sen. Khi sen xanh đua nhau khoe màu ở đây thì sen đỏ vươn mình phô sắc phiá bên kia, và trong đầm bên cạnh, sen trắng đua nhau tranh đẹp dưới ánh nắng ban mai. Trầm hương của ta dùng đều là loại thượng hảo hạng từ xứ Kasi đưa về. Khăn và áo của ta cũng may toàn bằng hàng lụa bậc nhứt từ xứ Kasi chở đến.

"Ngày cũng như đêm, mỗi khi ta bước chân ra khỏi cung điện là có tàng lọng che sương đỡ nắng.

 "Phụ hoàng cũng kiến tạo riêng cho ta ba toà cung điện. Một để cho ta ở mùa lạnh, một mùa nóng và một mùa mưa. Trong suốt bốn tháng mưa ta lưu tại một biệt điện có đầy đủ tiện nghi, giữa những cung tần phi nữ. Cho đến hàng nô tỳ của phụ hoàng cũng được ăn sung mặc sướng chớ không phải như ở các nhà khác, gia đình chỉ được ăn cơm xấu và thức ăn cũ."

Bấy lâu nay, trước mặt Thái tử chỉ là cảnh cung vàng điện ngọc, cung phi mỹ nữ đàn ca xướng hát quanh năm suốt tháng, là vợ đẹp, con thơ, là ngôi báu đang chờ đợi.

 Nhưng đến một ngày nọ, Thái tử nãy ra ý kiến xin phụ hoàng đi thăm dân cho biết sự tình. Vua Tịnh Phạn nghĩ cũng đến lúc cho Thái Tử Sĩ-Đạt-Ta ra ngoài thành để biết đất nước của mình hùng tráng, xinh đẹp như thế nào. 

 Vua Tịnh Phạn liền ra lệnh cho dân chúng mọi nhà phải cấp tốc giăng đèn kết hoa, trưng bày một cảnh thái bình thịnh vượng, người người phải lộ nét vui vẻ hạnh phúc, nhất là trên những con đường mà Thái tử sẽ đi qua.

 Dù đức vua Tịnh Phạn ra lệnh che giấu cuộc sống của dân chúng chu đáo như thế nào cũng không qua mắt được Thái tử. Sau bốn chuyến du ngoạn ngoài thành Thái tử đã quan sát và nhận thấy cuộc sống của con người không hoàn toàn hạnh phúc, mà cuộc sống con người bị quay cuồng trong một vòng tròn khốn khổ như hình ảnh một cụ già yếu ớt, mắt mờ, lưng còng, tóc bạc, da nhăn, bước đi rung rẩy phải nhờ một cây gậy chống đỡ. Một người bệnh hoạn đau đớn rên la ngoài đường trông thật thảm thương. Một thây người chết sình thúi đưa lên giàn hoả thiêu đốt trước sự khóc lóc sầu não của người thân còn sống. Bên cạnh đó những người xung quanh chỉ lo chạy đua, tranh giành, chụp giựt, bon chen hằng ngày, không hề có giây phút suy tư tìm cách thoát khỏi cái vòng hệ luỵ sanh, già, bệnh, chết đó! Chừng như họ chịu thua hoàn cảnh khắc nghiệt ập lên cuộc đời ngắn ngủi của họ và cứ tiếp tục thả mình trôi lăn trong biển khổ định mệnh. Riêng Thái tử thì không chấp nhận, Ngài nghĩ là mình phải làm bất cứ giá nào để vượt khỏi sự sinh diệt. Rồi Ngài trầm ngâm tư duy tìm lối thoát ra, nhưng không có cách nào hết. 

 Cũng may, ngoài ba cảnh già, bệnh, chết... thì trong chuyến du ngoạn lần thứ tư, Thái tử gặp được một vị đạo sĩ Bà La Môn nghiêm trang khả kính. Hình ảnh thong dong từ tốn của vị tu sĩ này đã mở cho Thái tử một con đường mà Ngài hy vọng sẽ đạt được giải thoát an vui.