Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu.

Bạn đang xem: Lĩnh hội là gì

Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.27 MB, 104 trang )


phức tạp bao gồm sự tham gia của các quá trình nhận thức, nhƣ : tri giác, ghi nhớ, tƣ duynhằm tiếp nhận, xử lý, lƣu giữ và tái tạo tài liệu đƣợc lĩnh hội. Lĩnh hội liên quan đến các đặcđiểm của nhân cách - tình cảm, ý chí...Nghiên cứu lĩnh hội phải đề cập đến ba loại hiện tƣợng: tri thức - kết quả đạt đƣợc trong quá trình học tập; quá trình tƣ duy nhờ đó có đƣợc các kếtquả; các phẩm chất nhất định của hoạt động trí tuệ đƣợc hình thành trong những điều kiệncủa giáo dục và dạy học. Mỗi mặt này thể hiện những mức độ khác nhau của sự phát triển trítuệ : nếu chỉ dựa trên tri thức thì chƣa thể nói về sự phát triển trí tuệ; quá trình tƣ duy đã cóthể thể hiện rõ nét hơn sự phát triển trí tuệ; các phẩm chất của hoạt động tƣ duy - các cáchthức, phƣơng pháp khác nhau đƣợc sử dụng trong hoạt động tƣ duy -đã thể hiện một cách rõràng hơn cả sự phát triển trí tuệ. Lĩnh hội đích thực chỉ có thể có khi học sinh hành động tíchcực với tài liệu học tập, áp dụng các kiến thức tƣơng ứng. Trong quá trình áp dụng tri thứckhông chỉ khám phá đƣợc các khía cạnh mới, quan trọng của sự vật, hiện tƣợng trƣớc đâychƣa đƣợc ghi nhận, mà còn hình thành các phƣơng thức hoạt động trí tuệ, hình thành nănglực biết tƣ duy1.Về mặt cấu trúc, quá trình lĩnh hội bao gồm : thái độ tích cực của học sinh đối vớiviệc học tập; các quá trình tìm hiểu tài liệu một cách trực tiếp và cảm tính; quá trình tƣ duyvới tƣ cách một quá trình sàng lọc tích cực tài liệu thu nhận đƣợc; quá trình ghi nhận và giữthông tin thu nhận đƣợc và đã đƣợc hiệu chỉnh.2 Quá trình lĩnh hội trải qua các giai đoạn :tiếp nhận thông tin - thông tin mới có thể mâu thuẫn hoặc là thay thế những tri thức mà chủthể đã có từ trƣớc đến nay; xử lý thông tin nhằm biến đổi và cấu trúc lại tri thức hiện có làmcho nó thích hợp với việc giải quyết những1Đ.N. Bogoiablenxki và N.A. Menchinxkaia : Tâm lý học lĩnh hội tri thức trong trƣờng phổ thông.M., 1959(tiếng Nga ).2V A Kruteski : Tâm lý học dạy học và giáo dục học sinh phổ thông. M., 1976, tr. 152-159 ( tiếng Nga ).11 nhiệm vụ mới; kiểm tra tính chính xác tính chính xác của những phƣơng thức mới đƣợc sửdụng để giải quyết một vấn đề nào đó.1 Về cơ chế của sự lĩnh hội : sự lĩnh hội tri thức đƣợcthực hiện trong quá trình hoạt động của học sinh trải qua một số giai đoạn và là kết quả củaviệc lĩnh hội một hệ thống hành động với đối tƣợng mà xuất phát điểm là hình thức hànhđộng vật chất, bên ngoài, và kết thúc là hình thức trí tuệ, bên trong.2Kết quả của quá trình lĩnh hội có thể đƣợc xem xét theo các tiêu chí : tính vững chắc,tính hệ thống, chất lƣợng lĩnh hội tri thức. Các khái niệm khoa học, các qui luật khoa học vàcác phƣơng thức chung giải các bài toán thực tế dựa trên chúng tạo thành bộ phận cơ bản củahoạt động học tập. Sự lĩnh hội những tri thức khoa học và những kỹ năng tƣơng ứng vớichúng là mục đích cơ bản và là kết quả chủ yếu của hoạt động học tập. Sự phức tạp hóa cáctri thức và các phƣơng thức hoạt động là mặt chủ yếu quyết định sự phát triển của trẻ emtrong quá trình dạy học. Những tri thức tƣơng ứng với một đối tƣợng nhất định của một khoahọc đƣợc đặc trƣng bởi một cấu trúc phức tạp mà trong đó có chứa đựng những bài toán,những đối tƣợng và những thao tác đặc biệt. Cần làm sao cho trẻ em lĩnh hội những thao tácmới trong những chức năng đặc thù của chúng, tức là gắn liền với hoạt động mà thao tác nàylà phƣơng tiện thực hiện.3Tóm lại, lĩnh hội là quá trình chủ thể thực hiện hoạt động tích cực nhằm biến nhữngkinh nghiệm loài ngƣời tích lũy đƣợc trong quá trình phát triển lịch sử thành kinh nghiệm cánhân. Nó là hoạt động tâm lý phức tạp. Kết quả của quá trình lĩnh hội là sự thay đổi diễn ratrong chính chủa thể của quá trình lĩnh hội - đó là sự cấu trúc lại kinh nghiệm bản thân, hình1Đ.Brunner : Tâm lý học nhận thức. M., 1977, tr. 370-371 (tiếng Nga )P.Ia Galpêrin : Phát triển các công trình nghiên cứu quá trình hình thành hành động trí tuệ. Trong Tâm lý họcLiên xô ( Phạm Minh Hạc tuyển lựa và tổng chủ biên ). M., 1978,tr. 351-3983A.v. Pêtrovxki ( chủ biên ) : TLH lứa tuổi và TLH sƣ phạm. NXBGD, H., 1982, tr. 80-81, 26-27212 thành những phƣơng thức hành động mới ngày càng cao hơn. Đó chính là các cấu thành tâmlý mới và là điều kiện cho các bƣớc phát triển tiếp theo.1.2 Khái niệm :Tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ ... là đối tƣợng lĩnh hội ở học sinh, chúng đƣợc chọnlọc từ các khoa học khác nhau, theo các nguyên tắc nhất định và tạo thành các môn học tƣơngứng. Một phần quan trọng trong chƣơng trình mỗi môn học là hệ thống các khái niệm khoahọc. Một cách chung nhất, khái niệm là một trong những dạng phản ánh thế giới trong tƣ duy,là kết quả của sự khái quát hóa những thuộc tính bản chất của đối tƣợng, là phƣơng tiện củatƣ duy lý luận, giúp học sinh có thái độ khoa học đối với hiện thực.Mỗi đối tƣợng của bất kỳ hoạt động nào đều tồn tại và phát triển bởi những mối liênhệ nội tại của nó, đó là sự tồn tại khách quan. Kết quả của quá trình hoạt động, trong đónghiên cứu khoa học là một bộ phận, đã đƣa đến việc phát hiện ra logic phát triển của đốitƣợng, bắt đầu từ chỗ xuất phát của nó trong hiện thực, đó là những tri thức về bản chất sự vậtvà hiện tƣợng của thế giới khách quan. Sau đó chúng đƣợc mã hóa dƣới các hình thức khácnhau của ngôn ngữ. Bất cứ một khái niệm khoa học nào ( logic của đối tƣợng ) rút cục cũngphải có hình thức thuật ngữ của nó. Nhƣ vậy, một khái niệm với tƣ cách là một sản phẩm tâmlý có hình thức tồn tại bên ngoài ( vật chất hoặc ngôn ngữ, ký hiệu, thuật ngữ, mô hình ...

Xem thêm: Cách Nấu Thịt Chân Giò Ngon Từ Thịt Chân Giò Heo, Đẹp Da, Bổ Dưỡng

) vàhình thức tồn tại bên trong, ẩn đằng sau ( đó là nội dung của khái niệm ). cả hai hình thức nàyđều đƣợc xác định bởi một chuỗi thao tác liên tiếp nhau ( theo một thứ tự chặt chẽ ), gọi làlogic của khái niệm.1 Các khái niệm bao giờ cũng phải nằm trong một hệ thống. Quá trìnhhình thành khái niệm đi liền với quá trình khái quát hóa và quá trình nhận biết ra khái niệm.Nhờ1Hồ Ngọc Đại : Tâm lý học dạy học. NXBGD. Hà Nội, 1983.13 khái quát hóa mà có khái niệm bậc cao, trong hệ thống khái quát khái niệm bậc cao bao hàmcác khái niệm mà mỗi khái niệm đó là một trƣờng hợp riêng. Khái niệm khoa học có đặcđiểm là dùng một khái niệm khác làm trung gian giữa nó và đối tƣợng, vì vậy một khái niệmbao giờ cũng có mối quan hệ với đối tƣợng và mối quan hệ với một khái niệm khác, từ đây tacó những thành tố ban đầu của hệ thống khái niệm, mối quan hệ thứ nhất đòi hỏi mối quan hệthứ hai.1Tóm lại, Khái niệm là một trong những dạng phản ánh thế giới hiện thực trong tƣ duy.Nhờ khái niệm con ngƣời khái quát hóa đƣợc các khía cạnh và dấu hiệu bản chất của sự vật,hiện tƣợng, từ đó nhận thức đƣợc bản chất của chúng. Khái niệm là sản phẩm của hoạt độngnhận thức, nó phát triển từ bậc thang thấp đến bậc thang cao. Khái niệm không phải là bấtbiến, hoàn chỉnh, tuyệt đối, mà nằm trong trạng thái phát triển, thay đổi theo hƣớng ngàycàng phản ánh chính xác thực tại khách quan. Chức năng logic cơ bản của khái niệm là, trêncơ sở những dấu hiệu nhất định, biểu thị trong trí tuệ những đối tƣợng mà ta quan tâm. Nhờchức năng này khái niệm nối kết từ ngữ với sự vật nhờ đó có thể xác định nghĩa chính xáccủa từ ngữ và thao tác với từ ngữ trong trong quá trình tƣ duy.21.3 Lĩnh hội khái niệm :Các khái niệm khoa học là sự thể hiện năng lực của con ngƣời, hình thành trong quátrình phát triển của thực tiễn xã hội, nhƣng chúng không trực tiếp đƣợc mang sẵn đến cho chủthể mà thể hiện nhƣ một bài tập, một nhiệm vụ đòi hỏi chủ thể phải thực hiện một hoạt độngthực tiễn hay nhận thức tƣơng ứng để biến năng lực đó thành năng lực của chính mình.Những hành động tâm lý của chủ thể thâm nhập vào đối tƣợng là điều kiện tiên12Phạm Minh Hạc : Tâm lý học vƣgôtxki. Tập I. NXBGD. Hà Nội, 1997, tr. 195-221M.M. Rozental : Từ điển triết học. M., 1975 ( tiếng Nga )14 quyết để hình thành khái niệm về đối tƣợng đó. Mặt khác, hành động của chủ thể phải phùhợp với logic của đối tƣợng. Nếu nhìn đối tƣợng trên quan điểm logic hình thức, tức là xétkhái niệm theo các dấu hiệu bề ngoài, con ngƣời chỉ dùng những hành động so sánh, phânloại, trừu tƣợng hóa. Nếu nhìn đối tƣợng trên quan điểm logic biện chứng, tức là xét kháiniệm theo cấu trúc nội tại của nó, thì phù hợp với nó phải cần đến các hành động phân tích,mô hình hóa, cụ thể hóa...Nhƣ vậy, hành động là phƣơng thức tồn tại của khái niệm. Nói cáchkhác, khái niệm có bản chất hành động.1Khi đã nắm đƣợc bản chất của đối tƣợng ( nắm đƣợc khái niệm ) thì đồng thời tạođƣợc trong tƣ duy sự thống nhất giữa đối tƣợng và thuật ngữ. Lúc đó thuật ngữ là công cụquan trọng để con ngƣời nhận thức thế giới bằng tƣ duy khái niệm - tƣ duy bằng hình thứckhái niệm - hành động với khái niệm về đối tƣợng tức là hành động với các đối tƣợng đƣợcphản ánh trong khái niệm (tƣơng tự nhƣ vậy, lập luận là đem đối chiếu các đối tƣợng đangđƣợc đề cập tới, các thuộc tính và quan hệ của chúng ... ). Hành động với khái niệm mà táchkhỏi đối tƣợng của khái niệm ấy nhất địng trở thành hành động với các thuật ngữ, chứ khôngphải với các khái niệm.2 Trong mối quan hệ với chủ thể, đối tƣợng là một thực thể luôn vậnđộng và phát triển. Trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn đánh dấu một trình độ phát triểnmới của đối tƣợng làm nên sự phát triển của chủ thể và ngƣợc lại. Khi đang hình thành, kháiniệm là mục đích của hoạt động học. Nhƣng khi đã đƣợc hình thành, khái niệm trở thànhcông cụ của hoạt động học và hoạt độn nhận thức, thực tiễn. Từ lúc trẻ bắt đầu đến trƣờng thìhình thức tƣ duy mới cần phải hình thành là tƣ duy lý luận lấy khái niệm khoa học làm công1Phạm Minh Hạc ( chủ biên ) : Tâm lý học. Tập II. NXBGD. Hà Nội, 1989,tr. 96-112X.L.Rubinstein : Nguyên lý quyết định luận và lý luận tâm lý học về tƣ duy. Trong Tâm lý học Liên xô ( PhạmMinh Hạc tuyển lựa và tổng chủ biên ). M., 1978, tr. 281-281215